CategoriesLearnLifeThink

4 giai đoạn phát triển năng lực của con người

Trong cuộc đời mỗi người, ngoài những năng lực tự nhiên sẵn có thì mỗi người trong quá trình sống đều học hỏi một cách vô thức hoặc ý thức thêm hàng trăm kỹ năng, năng lực mới. Tất cả các kỹ năng, năng lực đó đều trải qua cả 4 giai đoạn này. Nhìn nhận và hiểu cả 4 giai đoạn này có thể giúp bản thân chúng ta học hỏi nhanh hơn, hiệu quả hơn, bên cạnh đó cũng giúp chúng ta sẽ có cách đào tạo, truyền đạt cho người khác tốt hơn.

Continue reading
CategoriesDevOpsLearn

Hiểu hơn về HTTPS với ví dụ bồ câu đưa thư (Mike Nguyen)


Chúng ta đều biết mã hoá là một chủ đề rất khó hiểu. Nó ứng dụng hàng loạt các chứng minh toán học để biến thông tin từ định dang bình thường sang định dạng không tin không thể hiểu được nếu như không có phương tiện Giải mã. Nhưng trừ khi bạn thực sự phát triển một hệ thống mã hoá, nếu không thì bạn không cần thiết phải hiểu rõ phần lớn các sự phức tạp mà vẫn có thể hiểu được những gì thực sự đang diễn ra.

Continue reading
CategoriesDevOpsDo

SSH là gì? Hướng dẫn kết nối đến máy chủ Linux thông qua SSH

SSH là gì?


SSH (Secure Shell) là một giao thức mạng, giao thức này cho phép chúng ta kết nối đến một máy chủ Linux từ xa thông qua mạng Internet. Mọi dữ liệu gửi và nhận thông qua SSH đều được mã hóa giúp bảo mật thông tin an toàn hơn.
Ví dụ bạn thuê một máy chủ Linux (máy chủ này có thể là vật lý, có thể là máy ảo) để chạy website, trên thực tế máy chủ này được đặt ở một DC nào đó, để có thể toàn quyền cài đặt và điều khiển máy chủ đó bạn cần kết nối với máy chủ đó từ xa. SSH cho phép bạn làm điều đó.

Continue reading
CategoriesDevOpsDo

Cron format – Định dạng và cú pháp Cron trên Linux

Trong bài viết này mình sẽ chỉ nói về định dạng và cú pháp của Cron, việc cài đặt Cron Job mình sẽ chia sẻ trong một vài viết khác.
Nói qua một chút về Cron Format. Cron Format là một định dạng thời gian để xác định tần xuất của một tác vụ nào đó của hệ thống , định dạng này được thiết kế với tiêu chí đơn giản, hiệu quả, linh hoạt. Ví dụ các tác vụ như: Backup Database, Polling SCM…
Cron Format bao gồm có 5 trường giá trị riêng biệt được phân cách nhau bởi dấu “TAB” hoặc dấu cách “Whitespace”.

Continue reading
CategoriesDevOpsDo

CI Jenkins – Cài đặt Jenkins trên máy ảo Laravel Homestead

Bài viết này hướng dẫn các bạn cài đặt Jenkins trên máy ảo Laravel Homestead. Việc cấu hình và sử dụng Jenkins mình sẽ chia sẻ trong một bài viết khác.
Ngoài ra nếu bạn chưa biết cài đặt Laravel Homestead, hãy tham khảo bài viết này: Laravel Homestead – Môi trường phát triển chuẩn cho Laravel.
Các bước hướng dẫn dưới đây là các bước sau khi các bạn chạy câu lệnh vagrant ssh  để kết nối với máy ảo.

Bước 1: Cài đặt Java

Các bạn tham khảo bài viết này nhé: Hướng dẫn cài đặt Java JDK trên Ubuntu.

Bước 2: Cài đặt Jenkins

Thêm repository key vào hệ thống: wget -q -O – https://pkg.jenkins.io/debian-stable/jenkins.io.key | sudo apt-key add – .
Mở file sources.list  với câu lệnh sudo vi /etc/apt/sources.list , thêm vào cuối file deb https://pkg.jenkins.io/debian-stable binary/ .
Cập nhật package: sudo apt-get update .
Cài đặt Jenkins: sudo apt-get install jenkins .
Mặc định sau khi cài đặt Jenkins sẽ tự động chạy tại cổng 8080 , chúng ta có thể truy cập vào Jenkins thông qua trình duyệt với đường dẫn: http://ip_may_chu_cua_ban:8080 . Ví dụ: http://10.10.8.10:8080 .

Bước 3: Unlock Jenkins

Sau khi truy cập vào Jenkins thành công qua trình duyệt, chúng ta sẽ nhận được bảng thông báo như sau:

Để đảm bảo bảo mật thì Jenkins bắt buộc chúng ta phải lấy mã Admin trong file initialAdminPassword trên máy chủ.
Chạy lệnh sau để lấy mã: sudo cat /var/lib/jenkins/secrets/initialAdminPassword .
Output sẽ có dạng: d177322e66ca4ba38034fbfeada344c0 .
Copy đoạn mã và past vào ô Administrator password sau đó ấn Continue.

Bước 4: Đổi mật khẩu Admin

Sau khi đã có quyền truy cập vào Jenkins, điều đầu tiên chúng ta cần làm là đổi mật khẩu Admin.
Ở góc trên bên phải sẽ có 1 nút Admin , ấn vào đó, tiếp tục ở cột bên trái sẽ có Configure , tiếp tục ấn vào form cập nhật thông tin sẽ hiện ra.
Sau khi đổi mật khẩu admin coi như chúng ta đã tạm cài đặt xong Jenkins lên máy chủ, các bước tiếp theo mình sẽ hướng dẫn trong một bài viết khác nhé!

CategoriesDevOpsDo

Hướng dẫn cài đặt Java trên Ubuntu

Để kiểm tra xem máy chủ của bạn đã được cài Java chưa, gõ lệnh: java -version .
Nếu output tương tự thế này thì máy bạn đã cài Oracle Java rồi:

java version "1.8.0_131"
Java(TM) SE Runtime Environment (build 1.8.0_131-b11)
Java HotSpot(TM) 64-Bit Server VM (build 25.131-b11, mixed mode)

Hoặc nếu output tương tự thế này thì máy của bạn đã được cài Java Open JDK rồi:

openjdk version "1.8.0_151"
OpenJDK Runtime Environment (build 1.8.0_151-8u151-b12-0ubuntu0.16.04.2-b12)
OpenJDK 64-Bit Server VM (build 25.151-b12, mixed mode)

Nếu chưa, tham khảo các bước sau để cài đặt Java:

Bước 1: Cài đặt Java thông qua apt-get

Cài đặt Java Open JDK

sudo apt-get install default-jdk

Bạn có thể thay đổi phiên bản mong muốn, ví dụ:

sudo apt-get install openjdk-8-jdk
sudo apt-get install openjdk-7-jdk

Hoặc cài đặt Oracle Java

Mặc định Java không có sẵn trong repository của Ubuntu, vì vậy ta cần add thêm:

sudo add-apt-repository ppa:webupd8team/java

Cập nhật lại Apt package:

sudo apt-get update -y

Cài đặt Oracle Java:

sudo apt-get install oracle-java8-installer

Kiểm tra lại version của Java:

java -version

Bước 2: Cấu hình JAVA_HOME

Mở file enviroment với câu lệnh: sudo vi /etc/environment
Sau đó thêm vào cuối file dòng: JAVA_HOME=”/usr/lib/jvm/java-8-openjdk-amd64″ hoặc /usr/lib/jvm/java-8-oracle/  nếu cài đặt Oracle Java.
Lưu ý đường dẫn đến Java home có thể khác tùy thuộc vào phiên bản, vì vậy cách tốt nhất các bạn cd /usr/lib/jvm  sau đó ls -la  để xác định Java home phù hợp nhé.
Bước cuối cùng, chạy lệnh source /etc/environment để tải lại file enviroment.
Chúc các bạn thành công!.

CategoriesBusinessThink

Value proposition and Good -Fast - Cheap

Hi there! This is my first post, and I will write something about “running a web development business”, something from my experience when working as a manager at Time Universal Communications (One of the top agencies in Hanoi, Vietnam).

The topic for today is defining “Value Proposition” base on 3 things: Good, Fast and Cheap.

medium.com/@toanna

“Value Proposition” is your product, service offering, what you can deliver to the customer. It is combination of skills and products.

Good, fast and cheap are 3 things that can describe your offering.

Remember, you can only be two out of three. It is impossible to be all of them.

Let’s go a little bit deeper.

Good:

It is hard to deliver quickly. You also have to pay people (your staffs or subcontractors) more for their experience.

Fast:

It means you are cutting corners somewhere, probably on quality. You have to pay people more for working over time.

Cheap:

Cutting costs on quality or delivering time, it means delivering later or lowering the quality.

“We have to optimize 2/3, and remember, not all three.”

Some kinds of works and customers that fit with the “2/3 combinations”.

Fast + Cheap: Maintenance works, companies on a budget.

Good + Cheap: Companies who do not care about quick delivery.

Good + Fast: Companies who do not care about budget.

My first post is a little bit short but I think it can help you with defining your “Value Proposition” and have an overview about 3 important things: Good-Fast-Cheap, those determine our offering and products.

Hope this can help! Thanks!

(My first post on Medium on a rainy day in May 2017)

CategoriesLifeThink

Câu chuyện về cái bẫy chuột (st)

Ở một nông trại yên bình nọ có một cặp vợ chồng nông dân sống vui vẻ. Họ có nuôi một con Gà, một con Lợn và một con Bò. Sống trong nhà còn có một con chuột nhỏ.
 
Một hôm, Chuột tình cờ thấy vợ chồng người nông dân đem về một gói hàng. Chuột ta bèn xem trộm qua kẽ tường, tự hỏi “Không biết cái gói hàng này chứa thức ăn gì đây?”. Và chuột ta kinh hoàng khi phát hiện ra gói hàng đó là một cái bẫy chuột.
 
Chạy vọt ra ngoài sân, Chuột la toáng lên với vẻ hoảng sợ: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”
 
Gà dừng bới đất, ngẩn đầu lên nói: “Anh Chuột ơi, nó đúng là nguy hiểm cho anh, nhưng tôi thấy nó chẳng dính dáng gì đến tôi cả. Cái bẫy chuột đâu có ảnh hưởng đến tôi.”
bay-chuot
Chuột quay sang Lợn và nói rằng: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”. Lợn tỏ vẻ thông cảm và nói: “Tôi rất lấy làm tiếc là tôi không giúp gì được cho anh, tôi chỉ có thể cầu nguyện cho anh không bị hại bởi cái bẫy chuột đó.”
 
Chuột bèn chạy sang Bò và nói: “Có một cái bẫy chuột trong nhà! Có một cái bẫy chuột trong nhà!”. Bò trả lời: “Tôi rất lo lắng cho anh, nhưng mà cái bẫy chuột đó chẳng làm hại tôi được.”
 
Mọi con vật trong sân tỏ ra thờ ơ với cái bẫy chuột… thế là Chuột chán nản trở vào nhà, một mình đối mặt với cái bẫy chuột đáng sợ đó.
 
Ngay tối hôm đó, khi mọi người đang ngủ ngon giấc thì một tiếng động vang lên khắp nhà – tiếng động phát ra bởi cái bẫy chuột khi có con mồi bị sập bẫy. Người vợ liền chạy ngay đến cái bẫy xem con gì bị sập bẫy. Trong bóng tối, người vợ không hề biết rằng một con rắn độc bị cái bẫy chuột kẹp trúng đuôi. Thấy người tới, con rắn bèn cắn một phát.
 
Sau đó, người vợ lên cơn sốt. Để hạ sốt, tốt nhất là cho bệnh nhân ăn cháo gà. Thế là người chồng xách rìu ra sân bắt Gà nấu cháo cho vợ ăn.
 
Bệnh tình của người vợ không thuyên giảm. Hàng xóm và bạn bè nghe tin liền đến thăm người vợ. Để đãi khách, người chồng làm thịt Lợn.
 
Cuối cùng, người vợ không khỏe lên được và chết. Rất nhiều người đến đưa tang người vợ. Người chồng phải giết Bò để phục vụ đám tang.
 
Chuột buồn bã chứng kiến toàn bộ sự việc qua kẽ tường.
 
Khi bạn biết được có người gặp rắc rối và cần sự giúp đỡ, bạn đừng nghĩ rằng chuyện đó không ảnh hưởng gì đến mình. Nên nhớ rằng khi một người gặp rắc rối, tất cả chúng ta đều có thể bị liên lụy. Tất cả chúng ta đều liên quan với nhau trong cuộc hành trình mang tên “cuộc sống”. Chúng ta phải cố gắng động viên và giúp đỡ nhau, giúp người cũng là giúp chính mình vậy.
 
(st)
CategoriesDevOpsLearn

Học Javascript qua ví dụ – Learn Javascript by examples

Bài viết tổng hợp các ví dụ về Javascript, qua đó có thể giúp chúng ta củng cố, nắm chắc kiến thức về Javascript hơn.

Mục lục

  1. Toán tử delete
  2. Closure trong vòng lặp

1. Toán tử delete

Xét đoạn code, và đoán xem các output sẽ là gì?

//Ví dụ 1:
var myCar = 'Range Rover';
var getMyCar = (function(){
    delete myCar;
    return myCar;
});
console.log(myCar); //Kết quả 1
//Ví dụ 2:
function RangeRover(){};
RangeRover.prototype.color = 'White';
RangeRover.prototype.year = '2016';
var myCar = new RangeRover();
delete myCar.year;
console.log(myCar.year); //Kết quả 2
//Ví dụ 3:
delete RangeRover.prototype.color;
console.log(myCar.color); //Kết quả 3

Kết quả:

Range Rover //Kết quả 1
2016 //Kết quả 2
undefined //Kết quả 3

Giải thích:
Ví dụ 1: Toán tử delete  dùng để xoá một thuộc tính của một đối tượng, myCar  là một biến và không phải là một đối tượng, vì thế kết quả cuối cùng vẫn là Range Rover  vì toán tử delete  không ảnh hưởng đến myCar .
Ví dụ 2: Như đã nói ở trên, toán tử delete  dùng để xoá một thuộc tính của đối tượng, vậy tại sao myCar.year  vẫn không bị ảnh hưởng bởi toán tử delete ? Lí do là vì myCar.year  là một thuộc tính kế thừa từ RangeRover.year , nên myCar.year  cũng không bị ảnh hưởng bởi delete .
Ví dụ 3: Kết quả là undefined  vì thuộc tính color  đã bị xoá trong RangeRover.prototype.color , đồng thời thuộc tính kế thừa color  của instance myCar  cũng bị loại bỏ theo.

2. Closure trong vòng lặp

Đang cập nhật..
 

CategoriesBusinessLearn

Quy trình tuyển dụng UX Designer (St)

Công ty mình có một bộ phận gọi là Talent Acquisition (tạm dịch là săn nhân tài), bộ phận này sẽ đóng vai trò tìm kiếm và hỗ trợ suốt quá trình phỏng vấn.
Kế hoạch tuyển dụng được CEO approve (do ở cty mình Design Manager report trực tiếp cho CEO) thì Design Manager sẽ bắt đầu chuẩn bị Job Description (JD) và các yêu cầu kèm theo. Sau đó Design Manager setup một cuộc họp với Talent Acquisition Manager để brief yêu cầu về vị trí cần tuyển.
Sau đây là cụ thể các bước chi tiết.
Bước 1: Tìm kiếm ứng viên
Ở bước này công ty có các nguồn như sau:
Nguồn riêng của TA.
Bên cạnh đó, TA họ cũng sẽ báo cho một loạt Recruitment Agencies (head hunter) đã có hợp đồng với công ty. Các head hunter này cũng sẽ bắt đầu tìm kiếm và liên lạc trong database của họ.
Ngoài ra thì team TA cũng đăng lên website của công ty và các trang web tuyển dụng (ở Úc thì chủ yếu là LinkedIn và Seek).
Design Manager cũng sẽ chủ động tìm kiếm trong network, hỏi thăm bạn bè, lần mò trên LinkedIn để xem có ai phù hợp thì sẽ chuyển qua cho TA để họ liên lạc.
Thứ tự ưu tiên của TA sẽ là:
Nhóm được Design Manager recommend trực tiếp sẽ không phải qua sàn lọc, TA sẽ liên hệ trực tiếp.
Kế đến là nhóm ứng viên được giới thiệu từ head hunter.
Chót cùng mới là nhóm ứng viên nộp đơn trực tiếp qua website hay các website tuyển dụng.
Với nhóm 2 và 3, TA sẽ xem xét hồ sơ, các yếu tố xem xét bao gồm:
Số năm kinh nghiệm làm việc (bao nhiêu năm, đã làm với các công ty nào).
Các dự án đã làm: có lớn không, làm ở Úc hay là ở nước ngoài (ưu tiên các ứng viên đã làm các dự án lớn ở Úc hoặc Mỹ), dự án ở các nước khác thì ưu tiên thấp
hơn, dự án không tên tuổi mà họ không check được thì ưu tiên thấp nhất.
Reference letter từ các công ty cũ, recommendation trên hồ sơ LinkedIn, người recommend là ai,…
Bước 2: Phone interview với TA
Những ứng viên qua được bước 1 sẽ nhận được phone interview từ TA.
Trong buổi phone interview này TA sẽ hỏi những câu hỏi tổng quát mà như kinh nghiệm làm việc, đã tham gia những dự án nào, công ty ra sao, công việc ra sao,…
TA ít khi hỏi sâu về vấn đề chuyên môn và các dự án. Bước này chủ yếu để đảm bảo là CV đúng sự thật, kỹ năng trình bày giao tiếp ra sao,…
Bước 3: Design Manager duyệt
Qua được bước này, nếu TA thấy ứng viên tiềm năng thì họ sẽ chuyển hồ sơ cho Design Manager kèm theo một giới thiệu ngắn về cảm nhận của họ sau phone interview.
Design Manager sẽ duyệt và chọn xem muốn phone interview với ai. Chủ yếu Design Manager sẽ nhìn vào portfolio xem những ứng viên nào có dự án chất lượng. Nhấn mạnh portfolio là yếu tố then chốt ở bước này.
Hiểu nôm na kiểu như TA kiểm tra về đức ở bước 2, còn Design Manager kiểm tra về tài ở bước này 🙂
Bước 4: Skype Interview
Những ứng viên được chọn sẽ được setup một cuộc phỏng vấn trực tuyến với team Product Design (thật ra gọi Skype Interview là do quen miệng, chứ ứng viên có thể dùng HangOut hay Facetime cũng được). Thường sẽ là trực tiếp với Design Manager và một thành viên trong team.
Design Manager cố gắng giữ cho cuộc phỏng vấn này ngắn, không mất quá nhiều thời gian (tối đa 30 phút). Chủ yếu là để hỏi sâu hơn vào các dự án mà người đó đã làm, mục tiêu là để cảm nhận xem vai trò của họ trong dự án đó đến đâu, dự án có phức tạp không, họ đảm nhiệm những công việc gì, các thông tin mà họ viết trong CV có thực không hay là “quăng lựu đạn”… Chủ yếu dựa vào trực giác, quen rồi thì chúng ta sẽ sense được khá sớm là người này có đáng để đi tiếp hay không.
Cách Design Manager làm là mặc định xem như họ không đủ tiêu chuẩn và ứng viên có 30 phút để thay đổi nhận định đó. Nghe có vẻ hơi lạ nhưng mục tiêu của bước này là để loại càng nhiều càng tốt.

Sau buổi interview này Design Manager sẽ feedback lại cho TA về các ứng viên mà mình ưng. Những ứng viên mà Design Manager không feedback đồng nghĩa với bị loại. Trừ một số trường hợp đặc biệt tuy bị loại nhưng Design Manager vẫn feedback (tuy nhiên không nhiều).
Về phía ứng viên, họ sẽ nhận được 1 cuộc điện thoại từ head hunter hoặc TA để:
Hoặc là chúc mừng và thông báo bước tiếp theo,
Hoặc là rất tiếc đã bị loại vì lý do ABCD (trường hợp có feedback),
Đa số trường hợp là chỉ thông báo rất tiếc đã bị loại.
Bước 5: Off-site Test
Công ty mình có một loạt các bài test, các bài test này do team design phối hợp với một số công ty tư vấn xây dựng sẵn. Design Manager sẽ chọn ngẫu nhiên để chuyển cho TA. TA sẽ chuyển cho ứng viên.
Format của các bài này thường là đưa ra một vấn đề hoặc một feature nào đó trong sản phẩm đang có vấn đề (xuất phát từ thực tế các dự án đã làm), các ứng viên muốn hoàn tất bài test sẽ cần phải tiến hành một chút research, một chút design thinking, tư duy cho user flow, goal và cách giải quyết vấn đề, kể cả kỹ năng trình bày.
Các bài test này không quan trọng là câu trả lời đúng hay sai mà chủ yếu để xem cách mà ứng viên tiếp cận vấn đề, design thinking, process mà ứng viên làm, cách ứng viên trình bày,…
Với Visual Designer thì cũng tập trung vào design thinking, xem cách phân chia bố cục nội dung, có quan tâm đến chi tiết hay không (pixel perfect), có hiểu biết về responsive design không, có dùng grid không,…
Mục tiêu của bước này là để đánh giá năng lực và kinh nghiệm thực sự của ứng viên (nhằm loại bỏ các ứng viên chỉ biết lý thuyết mà thiếu kinh nghiệm thực tế).
Bước này cũng để xem ứng viên có thực sự mong muốn làm việc ở công ty và có nghiêm túc đầu tư công sức cho việc đó hay không (nhằm loại những ứng viên chuyên đi rải CV).
Và cuối cùng là để đảm bảo họ xứng đáng để chuyển sang bước tiếp theo. Vì bước tiếp theo là On-site Interview. Bước này sẽ cost thời gian của khá nhiều người trong công ty và cả chi phí kha khá của công ty (vì trường hợp ứng viên sống ở bang khác, công ty sẽ đài thọ toàn bộ chi phí khách sạn và máy bay cho họ đến Sydney làm On-site Interview).
Bước 6: On-site Interview
Ở bước này ứng viên sẽ được mời đến công ty để tham gia một số workshop khoảng 4 tiếng (đối với UX Designer).
Về phía công ty sẽ có: Design Manager, một hoặc một vài thành viên của team design, một vài stakeholder đại diện cho các team khác (thường là bên team product hoặc marketing), một người đại diện của TA.
Bước này chủ yếu để đào sâu 2 vấn đề:
Cơ hội cho ứng viên trình bày cách tư duy giải quyết vấn đề của mình, cách các ứng viên tranh luận và thương lượng với các stakeholder khi bị họ thử thách ra sao, kỹ năng trình bày thuyết trình ra sao.
Xem phong cách của ứng viên có phù hợp với phong cách làm việc của nhóm hay không.
Bước 7: Ứng viên điền một số form
Sau khi về thì TA sẽ gọi điện thoại cảm ơn này nọ và gửi một số form cho ứng viên điền (điền online), trong đó thu thập những thông tin như mức lương hiện tại, mức lương mong muốn, thông tin cá nhân, tiền án tiền sự này nọ, refference letter,…
Bước 8: Design Manager & CEO Approve
Về phía công ty, sau bước 6 thì TA sẽ giúp thu thập tất cả các phản hồi của mọi người lại.
Design Manager sẽ cân nhắc và sẽ là người ra quyết định cuối cùng để đưa lên cấp Executive duyệt (trường hợp của mình là CEO), bên bộ phận kỹ thuật thì Manager sẽ chuyển lên CTO.
Qua được bước này thì xem như ứng viên cơ bản đã được công ty chọn, vì thường thì các cấp executive sẽ đồng ý theo đề xuất của Design Manager đưa lên. Trừ những trường hợp rất đặc biệt, ví dụ có một vị trí nào đó mà CEO đặc biệt quan tâm muốn tham gia trong bước 7 – Onsite Interview. Và trong buổi interview đó chẳng may CEO cảm thấy ko ổn thì CEO có thể đưa ra quan ngại của mình.
Về lý thuyết CEO có thể overwrite quyết định của Design Manager. Nhưng thực tế thì chưa lần nào xảy ra vì CEO không muốn tạo ra cảm giác họ đang can thiệp vào nội bộ công việc của team bên dưới.
Như đã nói, mục đích của bước này là để CEO lắng nghe ý kiến của Design Manager, lý do tại sao họ quyết định chọn ứng viên đó, dựa trên căn cứ gì. Sau đó CEO sẽ approve.
Bước 9: Offer
Mỗi 6 tháng thì các manager phải lên kế hoạch một lần, trong đó có kế hoạch về nhân sự và ngân sách cho nhân sự trong 6 tháng tiếp theo. Kế hoạch này sẽ được approve bởi CEO. Trước khi tuyển dụng một vị trí mới, Design Manager sẽ chia sẻ những thông tin về ngân sách lương này với TA Manager.
Dựa trên ngân sách lương + kết hợp với những thông tin mà ứng viên đã điền trong các form ở bước 7 + cộng thêm phản hồi của Design Manager về ứng viên (độ khao khát muốn nhận ứng viên đó 🙂 + mức lương thị trường cho vị trí đang tuyển. TA sẽ xây dựng một package cho ứng viên, package này sẽ được Design Manager và CEO duyệt.
Bước 10: Negotiate
Nếu package đưa ra mà ứng viên cảm thấy không hài lòng thì có thể thương lượng ở bước này. TA sẽ phản hồi lại mong muốn của ứng viên, Design Manager sẽ trao đổi với CEO để ra quyết định. Trong thực tế ở công ty mình thì đa số trường hợp các ứng viên đều cơ bản hài lòng với mức lương offer nên cũng ít khi phải deal tới deal lui.

Tổng cộng có 10 bước như vậy, về phía ứng viên thì có thể có thêm một số bước khác nếu đi qua con đường head hunter (do head hunter họ sẽ có riêng một số phỏng vấn của họ).
(St)