SSH là gì? Hướng dẫn kết nối đến máy chủ Linux thông qua SSH

SSH là gì?

SSH (Secure Shell) là một giao thức mạng, giao thức này cho phép chúng ta kết nối đến một máy chủ Linux từ xa thông qua mạng Internet. Mọi dữ liệu gửi và nhận thông qua SSH đều được mã hóa giúp bảo mật thông tin an toàn hơn.

Ví dụ bạn thuê một máy chủ Linux (máy chủ này có thể là vật lý, có thể là máy ảo) để chạy website, trên thực tế máy chủ này được đặt ở một DC nào đó, để có thể toàn quyền cài đặt và điều khiển máy chủ đó bạn cần kết nối với máy chủ đó từ xa. SSH cho phép bạn làm điều đó.

Cài đặt SSH trên máy chủ

Để có thể kết nối được từ một máy tính khác đến máy chủ thông qua giao thức SSH thì máy chủ của bạn phải được cài sẵn SSH.

Nếu bạn thuê máy chủ thì thường bước này nhà cung cấp đã làm hộ bạn và sẽ cung cấp cho bạn tài khoản để kết nối luôn.

Nếu bạn tự cài máy chủ thì tham khảo các câu lệnh sau:

Với RHEL/CentOS

Với Ubuntu/Debian

Sau khi cài đặt xong bạn có thể cấu hình SSH thông qua file config: /etc/ssh/sshd_config .

(Cụ thể cách cài đặt và cấu hình SSH trên máy chủ Linux mình sẽ chia sẻ ở một bài viết khác nhé các bạn.)

Đăng nhập vào máy chủ thông qua SSH

Để có thể đăng nhập vào máy chủ thông qua SSH, ta cần có những thông tin sau:

  • IP máy chủ, ví dụ: 10.10.8.10.
  • Tên đăng nhập người dùng (username), thường là root.
  • Mật khẩu người dùng (password).
  • Cổng giao tiếp, mặc định SSH sử dụng cổng 22.

Những thông tin này nếu bạn đi thuê máy chủ bạn sẽ được cung cấp sau khi bạn ký hợp đồng dịch vụ.

Đăng nhập từ một Linux hoặc MacOS

Nếu bạn kết nối từ một máy hệ điều hành Linux hoặc MacOS thì bạn đã được hỗ trợ sẵn SSH, vì vậy bạn chỉ cần mở Terminal và gõ câu lệnh với cú pháp sau:

Ví dụ:

Sau đó nhập hoặc past mật khẩu và ấn Enter. Done.

Mặc định port kết nối là 22, trong trường hợp không sử dụng port mặc định thì chúng ta thêm tham số -p, ví dụ:

Đăng nhập từ một Windows

Nếu bạn kết nối từ một máy chạy hệ điều hành Windows thì bạn cần sử dụng một ứng dụng hỗ trợ. Ứng dụng thông dụng nhất mình biết là PuTTY. Bạn có thể truy cập putty.org  để tải ứng dụng. Cách sử dụng cũng khá đơn giản, bạn chỉ cần nhập đầy đủ thông tin và kết nối.

(Các bạn thông cảm vì mình không sử dụng Windows nên không thể hướng dẫn các bạn chi tiết được.)

Ngoài ra với giao thức SSH chúng ta có một cách khác để kết nối với máy chủ mà không cần đăng nhập, cách này thường được sử dụng để cài đặt các tác vụ tự động hóa giữa các máy chủ với nhau. Mình sẻ chia sẻ với các bạn trong một bài viết khác nhé.

 

Hướng dẫn cài đặt Java trên Ubuntu

Để kiểm tra xem máy chủ của bạn đã được cài Java chưa, gõ lệnh: java -version .

Nếu output tương tự thế này thì máy bạn đã cài Oracle Java rồi:

Hoặc nếu output tương tự thế này thì máy của bạn đã được cài Java Open JDK rồi:

Nếu chưa, tham khảo các bước sau để cài đặt Java:

Bước 1: Cài đặt Java thông qua apt-get

Cài đặt Java Open JDK

Bạn có thể thay đổi phiên bản mong muốn, ví dụ:

Hoặc cài đặt Oracle Java

Mặc định Java không có sẵn trong repository của Ubuntu, vì vậy ta cần add thêm:

Cập nhật lại Apt package:

Cài đặt Oracle Java:

Kiểm tra lại version của Java:

Bước 2: Cấu hình JAVA_HOME

Mở file enviroment với câu lệnh: sudo vi /etc/environment

Sau đó thêm vào cuối file dòng: JAVA_HOME="/usr/lib/jvm/java-8-openjdk-amd64" hoặc /usr/lib/jvm/java-8-oracle/  nếu cài đặt Oracle Java.

Lưu ý đường dẫn đến Java home có thể khác tùy thuộc vào phiên bản, vì vậy cách tốt nhất các bạn cd /usr/lib/jvm  sau đó ls -la  để xác định Java home phù hợp nhé.

Bước cuối cùng, chạy lệnh source /etc/environment để tải lại file enviroment.

Chúc các bạn thành công!.

Cài đặt Laravel Homestead – môi trường phát triển chuẩn cho Laravel – sử dụng Vagrant, Virtual Box

Hãy hình dung, bạn có một nhóm cùng với nhau phát triển một dự án, khi đó vấn đề nảy sinh là: Mỗi thành viên trong team sử dụng một hệ điều hành khác nhau, dẫn đến khả năng phát sinh lỗi khi phát triển là rất cao, nhiều khi dự án chạy trên máy người này thì ổn, nhưng sang máy của một thành viên khác thì lại lỗi, gây khó khăn cho cả nhóm, tốn thời gian sửa lỗi không cần thiết. Vấn đề này không chỉ nảy sinh với những nhóm phát triển Laravel mà nó cũng là vấn đề với bất kỳ nhóm phát triển nào.

Vậy thì, làm thế nào để giải quyết vấn đề này?

Ý tưởng: Tất cả các thành viên trong nhóm sẽ cài đặt một máy ảo trên máy của mình và làm việc trên đó, máy ảo này sẽ được cài đặt đầy đủ tương đương với môi trường khi deploy.

Vấn đề phát sinh tiếp theo là mỗi thành viên khi cài đặt máy ảo của mình thì chưa chắc đã cài đặt đủ, đúng phiên bản các công cụ, dịch vụ, và hơn nữa là cũng khá tốn thời gian để cài đặt từng cái.

Và một vấn đề nữa, nhiều bạn đọc đến đây chắc vẫn đang băn khoăn “Nếu cài máy ảo thì tôi lại phải code trên máy ảo à? tôi không thích như vậy! tôi thích làm việc trên hệ điều hành quen thuộc của tôi cơ!”.

Chúng ta có quá nhiều vấn đề nhỉ, nhưng không sao, Vagrant có thể giúp chúng ta xử lý hết những vấn đề ở trên.

Trước hết hãy tìm hiểu xem “Vagrant là gì?”

Vagrant là gì?

Vagrant là một sản phẩm của HashiCorp, nó là một công cụ giúp chúng ta xây dựng môi trường phát triển. Hiểu đơn giản thì vagrant sẽ là cầu nối giữa máy tính cá nhân của chúng ta và máy ảo. Chúng ta vẫn code trên máy chúng ta như bình thường, và vagrant sẽ tự động đồng bộ nó với máy ảo, và máy ảo sẽ làm nhiệm vụ biên dịch và thông dịch, và hơn nữa máy ảo này có thể share được cho mọi người trong nhóm. Cool 😀

Hiểu sơ sơ vậy đủ rồi, giờ bắt tay vào cài đặt thôi.

Cài đặt Virtual Box

Đầu tiên chúng ta sẽ cài Virtual Box, đây là phần mềm tạo và cài đặt máy ảo, trên máy ảo sẽ được cài đặt sẵn môi trường làm việc phù hợp.

Ví dụ máy ảo để lập trình Laravel (Web/PHP) sẽ bao gồm:

  • Ubuntu 14.04
  • Git
  • PHP 7.0
  • HHVM
  • Nginx
  • MySQL
  • MariaDB
  • Sqlite3
  • Postgres
  • Composer
  • Node (With PM2, Bower, Grunt, and Gulp)
  • Redis
  • Memcached
  • Beanstalkd

Chú ý, theo kinh nghiệm cá nhân mình, phiên bản ổn định nhất của Virtual Box hiện tại là phiên bản 4.0.10 hoặc 4.0.12.

Cài đặt Vagrant

Tiếp theo chúng ta sẽ cài Vagrant, như đã nói ở trên thì Vagrant sẽ là cầu nối giữa máy chúng ta đang làm việc và máy ảo, mọi cập nhật trên máy chúng ta sẽ được đồng bộ với máy ảo ngay lập tức.

Add Vagrant Box

Sau khi cài đặt xong Virtual Box và Vagrant, bước tiếp theo chúng ta sẽ add box trên Vagrant. Vagrant cung cấp khái niệm box, mỗi box tương đương với một máy ảo. Tuỳ vào ngôn ngữ chúng ta sử dụng và yêu cầu của từng team chúng ta sẽ chọn những box khác nhau, danh sách các box được chia sẻ và tổng hợp tại hashicorp.

Với Laravel thì chúng ta sẽ chọn laravel/homestead. Bạn có thể thấy nó ở ngay trang đầu trên hashicorp.

Mở Terminal và gõ vagrant box add tên_box, VD: vagrant box add laravel/homestead

Máy tính bạn sẽ tự động tải bộ cài máy ảo tương ứng, dung lượng khoảng 1GB nên thời gian chờ cũng khá lâu.

Trường hợp mạng yếu tải Vagrant Box xảy ra lỗi

Có một số trường hợp do mạng yếu mà không thể tải được, để ý một chút chúng ta có thể thấy bên trong thông báo lỗi có đường dẫn tải box, chúng ta có thể copy link đó và tải trên trình duyệt, tốc độ sẽ nhanh và ổn định. Sau khi tải xong chúng ta lại chạy câu lệnh add như ở trên nhưng thêm path đến file vừa tải vào cuối.

vagrant box add /Volumes/Data/Setup/Homestead/hc-download

Với trường hợp này, để tránh phát sinh thêm lỗi về sau khi vagrant up, chúng ta tạo một file metadata.json, chứa nội dung như sau:

Sau đó chạy câu lệnh: vagrant box add metadata.json

Mình khuyến khích các bạn dùng cách này, vì sau này khi muốn add lại box mình không mất công tải lại box, chỉ cần add lại file metadata.json  là xong.

Trường hợp box đã tồn tại

Sử dụng lệnh vagrant box list  để hiển thị các box đang có.

Dùng lệnh vagrant box remove tên_box  để xoá box.

Xoá Vagrantfile hiện tại rm Vagrantfile .

Tiếp đến quay lại bước vagrant box add .

Config Vagrant

Tiếp theo chúng ta phải config lại vagrant một chút. Trước khi làm việc đó thì chúng ta chạy một vài câu lệnh nhỏ sau đây để khởi tạo.

Chú ý, nếu bạn cài đặt trên Window thì có thể vào thẳng folder Homestead và chạy file init.bat .

Sau đó chúng ta sẽ có 1 folder .homestead  và file ~/.homstead/Homestead.yaml

Mở file Homestead.yaml , chúng ta cần chỉnh sửa một chút cho phù hợp, chú ý đoạn sau:

Nhìn qua chắc bạn cũng có thể hình dung ra, mọi thứ trong /Users/Jeremy/Homestead  trên máy thật sẽ được đồng bộ với /home/vagrant/Code  trên máy ảo.

10.10.8.10  chính là ip của máy ảo, bạn có thể đổi tuỳ ý, miễn là không bị trùng với local của bạn là được.

toanf.dev  bạn có thể hiểu đơn giản nó là domain mà bạn sẽ gõ trên trình duyệt, còn /home/vagrant/Code/toanf.com/  là nơi chứa code laravel. Tất nhiên bạn sẽ phải add 10.10.8.10 toanf.dev  vào file hosts  trên máy bạn thì nó mới có thể chạy được.

Sắp xong rồi, giờ chúng ta mở terminal trong folder ~/Homestead  và chạy câu lệnh: vagrant up  để khởi động máy ảo.

Chúng ta cũng có thể connect với máy ảo qua ssh bằng câu lệnh: vagrant ssh

Vậy là xong, giờ chúng ta đã có môi trường ngon lành để làm việc với đầy đủ các công cụ, dịch vụ cần thiết mà không cần mất công đi cài đặt từng cái một, config từng cái một.

Một số câu lệnh làm việc với Vagrant

Chú ý, sau này khi muốn tương tác với máy ảo chúng ta cần mở terminal trong folder ~/Homestead  hoặc gõ lệnh vagrant global-status  để liệt kê các máy ảo, tiếp theo gõ câu lệnh vagrant theo cú pháp vagrant [lnh] [id_y_o] , ví dụ: vagrant up 1f5321 .

Ở bài viết này, mình chỉ đề cập chi tiết cách cài với mục đích sử dụng để phát triển Laravel, ứng với yêu cầu của team mình thì các bạn có thể tự tìm hiểu thêm nhé.

Bổ sung cách khắc phục một số lỗi phát sinh.

Lỗi:

Khắc phục: thêm đoạn config sau vào Vagrantfile